Sắc màu trong thơ Nguyễn Mỹ
( ThS. Bùi Văn Thành – Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Tuy An- Phú Yên ) Bài đã được đăng trên Tạp chí văn nghệ Nâm Nung, Tạp chí Đất Quảng
Nói đến thi sĩ Nguyễn Mỹ ( An Nghiệp – Tuy An – Phú Yên ), người ta nghĩ ngay đến nhà thơ của những sắc màu. Sắc màu ám ảnh trong anh và giúp anh thai nghén nên thi phẩm nổi tiếng Cuộc chia li màu đỏ lừng lẫy trên văn đàn trong những tháng năm đánh Mỹ và đến tận ngày nay. Nghiên cứu về thơ Nguyễn Mỹ còn lại (50 bài), chúng tôi thấy anh có cả một quan niệm về sắc màu, có 44/50 bài có từ chỉ sắc màu, chiếm tỉ lệ 88%.
Chúng tôi đã thống kê việc sử dụng các màu trong thơ Nguyễn Mỹ như sau :
Màu đỏ đẫ được Nguyễn Mỹ sử dụng nhiều, 56 lần, chiếm tỉ lệ: 29,2% và thành công nhất, tiếp đến là màu xanh 54 lần, tỉ lệ : 28,1%, màu trắng 32 lần, tỉ lệ :16,7%, màu vàng 21 lần, tỉ lệ : 10,9%, màu tím 15 lần tỉ lệ : 7,8%. Màu anh ít dùng, có tỉ lệ thấp là màu đen, nâu, xám.
Màu đỏ trong thơ Nguyễn Mỹ
Nhìn vào bảng màu thống kê trên, chúng ta thấy màu đỏ và màu xanh chiếm thế thượng phong. Nhưng màu đỏ là anh cả. Có thể nói, màu đỏ ngự trị trong thơ tạo nên dáng dấp riêng, rất Nguyễn Mỹ, khó có thể lẫn lộn với bất cứ nhà thơ nào khác. Anh sử dụng màu đỏ rất đa dạng, phong phú, sinh động. Đó là màu đỏ của những chùm hoa đỏ, cành hoa đỏ, nhành hoa lửa đỏ, bông hoa chuối đỏ tươi, đồi đất đỏ, cà phê chín đỏ, hòn Yến đỏ, hòn Đồn đỏ rực, ông sao đỏ, đỏ màu môi con gái, cô áo đỏ, cờ đỏ, lửa đỏ, chói ngời sắc đỏ…. Khi thì thay màu đỏ bằng màu hồng : bụi hồng, nắng hồng, lửa hồng, sắc hồng, cánh nhạn lai hồng, màu hồng ngọc, ánh lửa hồng, tím hồng, rực hồng, hồng tươi, hồng hào…Khi thì kết hợp với lửa, với đỏ, với tím như : lửa hồng, tím hồng, đỏ hồng, hồng ngọc, hồng thắm…Đặc biệt, Nguyễn Mỹ đ• dùng hình ảnh lửa thay sắc màu đỏ rất linh hoạt, tài tình, đem lại hiệu quả thẩm mĩ cao, như : rực như than lửa, ấm lửa sau lưng, tuyến lửa, chớp lửa, đốm lửa, hòn lửa, hoa lửa đỏ, hoa lửa công đồn…Nguyễn Mỹ sử dụng màu đỏ bên cạnh nghĩa thực là nghĩa biểu trưng :Cuộc chia li chói ngời sắc đỏ, cái màu đỏ ấy, nghĩa là màu đỏ ấy theo đi, Kỉ Dậu tích mầm đỏ chói, đỏ chiến công, vạn sắc hồng, tím nắng hồng…Mỗi nhà thơ dùng màu với những nghĩa khác nhau. Về nhà thơ Nguyễn Khuyến, Biện Minh Điền đ• nhận xét : “Màu đỏ trong thơ Nguyễn Khuyến cũng chủ yếu là màu tả thực (chỉ 5 lần với nghĩa biểu trưng “đ• mòn” chỉ sự may mắn)…Ông từng nhận thấy màu đỏ ở hiện thực thời đại ông là màu gắn với tai họa do cuộc xâm lăng của thực dân Pháp gây nên : - Cảnh khai thác thuộc địa khiến cho : “Rừng xanh núi đỏ hơn nghìn dặm / nước độc ma thiêng mấy vạn người” [10 , 20-21].Nguyễn Du sử dụng màu hồng, phần lớn cho người đẹp, dành cho môi người thiếu nữ. Màu hồng thể hiện niềm tin của Nguyễn Du vào phẩm giá, vẻ đẹp con người. Còn màu hồng, màu đỏ theo truyền thống của Việt Nam là màu tượng trưng cho sự tốt lành, diệt trừ ma quỉ…Nguyễn Mỹ vừa kế thừa màu đỏ truyền thống, vừa thể hiện cách nhìn, cách cảm của riêng mình. Màu đỏ trong thơ anh là màu cờ, màu tượng trưng cho lí tưởng cộng sản, cho cách mạng, màu của niềm tin, hạnh phúc, chiến công, chiến thắng : Nhưng tôi biết cái màu đỏ ấy Sẽ là bông hoa chuối đỏ tươi Trên đỉnh dốc cao vẫy gọi đoàn người Sẽ là ánh lửa hồng trên bếpMột làng xa giữa đêm gió rét …Nghĩa là màu đỏ ấy theo đi Như không hề có cuộc chia li. (Cuộc chia li màu đỏ)Anh còn sử dụng màu đỏ dành cho tình yêu say đắm, nồng nàn, lòng thủy chung son sắt, tình bạn thắm thiết, thể hiện sự trẻ trung, hào hứng, lạc quan, vui vẻ.Màu cờ được anh sử dụng với tình cảm trang trọng : “Cờ đỏ trương cao đối diện mặt trời !” (Thôn chài), hay : “Xanh, đỏ, tím, vàng / cờ chiến dịch tung bay” (Pháo xuống đồng bằng).Màu đỏ của niềm tin hy vọng được Nguyễn Mỹ diễn tả với lời thơ nhẹ nhàng : “Vui thêm một bức tường xây đỏ hồng” (Đi II).Con đường đi nhưng cũng là con đường cách mạng, con đường ra trận : “Sương sớm long lanh đường trải nắng hồng / Biển cả dịu dàng / Vỗ sóng mênh mông / Nhè nhẹ hát / bài ca thân ái” (Đi II).Cuộc chiến đấu ác liệt, gian khổ, gay go khiến cho người chiến sĩ như vắt kiệt sức, xanh xao, song niềm tin và hy vọng vẫn lóe sáng : “Vẫn rực hồng dưới nước da xanh” (Xuân chiến khu).Giống như Nguyễn Du, Nguyễn Mỹ dành màu hồng cho tình yêu, cho lòng son sắt thủy chung :“Mang đến hình em vạn sắc hồng” (E một nỗi), chia li nhưng vẫn sáng ngời hạnh phúc :“Đó là cuộc chia li chói ngời sắc đỏ / Tươi như cánh nhạn lai hồng” (Cuộc chia li màu đỏ).Chính biết đưa cái thần màu đỏ vào cuộc chia li của thời có một không hai ấy trong lịch sử đấu tranh hào hùng của dân tộc mà bài thơ Cuộc chia li màu đỏ của Nguyễn Mỹ ngay từ khi mới ra đời, đến nay, đ• được bạn đọc nồng nhiệt đón nhận và đ• làm rung động trái tim, bao thế hệ.Màu đỏ xuyên suốt, nổi bật từ đầu đến cuối bài thơ. Màu đỏ cuốn hút người đọc ngay từ câu mở bài :“Đó là cuộc chia li chói ngời sắc đỏ / Tươi như cánh nhạn lai hồng”. Chính do nghĩa biểu trưng của màu đỏ, màu lí tưởng, màu tươi sáng nên hình ảnh đau buồn, bi lụy, cái thường có của cuộc chia li bị nén lại nhường chỗ cho niềm tin và hy vọng.Cái độc đáo của bài thơ là trên nền màu đỏ, tác giả như một họa sĩ bậc thầy khéo chọn pha các màu khác, khiến cho bức tranh chia li trở nên sống động, lạ thường. Đó là gam màu xanh của vườn cây, ánh nắng màu vàng, lại điểm thêm màu rực rỡ vườn hoa, một vài chấm phá bông hoa đỏ. Trong khung cảnh ấy, cô gái tiễn đưa chồng ra trận là hình ảnh trung tâm cùng với chiếc nón trắng, càng làm bức tranh có hồn, mang giá trị thẩm mĩ cao. Điều này khẳng định tài năng pha màu độc đáo của Nguyễn Mỹ.Màu đỏ sẽ không còn là màu thực nữa mà được nâng lên thành màu của tình yêu, của lòng thủy chung son sắt, và chung qui lại là màu của lí tưởng, màu cách mạng. Chỉ có ở thời này, mới cho phép chúng ta hiểu màu đỏ với nghĩa biểu trưng như thế.Trong tác phẩm Chinh phụ ngâm, người vợ tiễn đưa chồng ra trận, tác giả dùng màu xanh làm nền cho bức tranh tiễn đưa : xanh trời, xanh cỏ…, còn người ra đi thì mặc áo đỏ với con ngựa trắng rất oai phong lẫm liệt. Nhưng những gam màu ấy, cũng không xóa đi vẻ bi lụy, cái dư vị đắng cay của cuộc chia lìa.Nguyễn Mỹ chọn màu đỏ diễn tả cuộc chia li phù hợp với hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ. Nó gắn liền với quan niệm người chiến sĩ cộng sản, của cái tôi cộng đồng mang tính sử thi. Đó là cuộc chia li lí tưởng, mà có lẽ trong lịch sử văn học Việt Nam chưa có thời đại nào như thế. Người vợ phải dồn nén nỗi đau, hy sinh cái riêng, vì cái chung của cộng đồng, của Tổ quốc : “Gió nói với tôi nghe những tiếng thì thào / Khi Tổ quốc cần, họ biết sống xa nhau…”Trong lịch sử Việt Nam, cuộc kháng chiến chống Mĩ là cuộc chiến gay go, khốc liệt nhất nhưng cũng rất hào hùng và vẻ vang nhất của lịch sử dân tộc ta. Đó là cuộc kháng chiến vĩ đại, mang tính nhân dân sâu sắc. Nói như Tô Hà : “ấn tượng của cuộc chia li mạnh đến nỗi, người lên đường đ• đi rồi mà hình ảnh như vẫn lưu lại” [7 ,33]. Tuy vậy, cuộc chia li vẫn không giấu được nỗi buồn da diết trong đáy mắt người vợ với chiều sâu tâm trạng : “Không che được nước mắt cô đ• chảy / Những giọt long lanh nóng bỏng sáng ngời”. Đó chính là nét độc đáo, tài hoa của Nguyễn Mỹ. Anh không những như một họa sĩ biết pha những gam màu hợp lí mà còn là thi sĩ tài năng, biết thổi cái hồn của cuộc chia li cần phải có vào thời kỳ lịch sử đặc biệt của dân tộc.Chúng tôi rất đồng tình với nhận xét của Nguyễn Thị Thu Trang về Nguyễn Mỹ: "Ông biết nâng hiện thực lên một bước bằng nghệ thuật. Màu sắc không chỉ tô điểm mà thành biểu tượng trong thơ ông" [13 ;94].Kết thúc bài thơ Cuộc chia li màu đỏ là màu đỏ biểu trưng: “Nhưng tôi biết cái màu đỏ ấy / Cái màu đỏ như cái màu đỏ ấy /... Nghĩa là màu đỏ ấy theo đi / Như không hề có cuộc chia li”.Màu đỏ ấy là gì mà ám ảnh nhà thơ đến như vậy? Phải chăng, là màu cô gái tiễn đưa chồng ra trận, hay màu của tình yêu cô rực cháy, hay của giọt long lanh nóng bỏng sáng người, của bình minh đang hé giữa làn môi, hay của rạng đông đ• bừng trên nét mặt… Suy cho cùng, màu đỏ ấy vừa thực vừa hư, vừa cụ thể vừa khái quát. Đó là màu của đất trời, màu của cõi lòng, màu của cuộc tiễn đưa, gộp lại là màu của lý tưởng, màu của tình yêu nồng cháy.Màu đỏ đ• trở thành biểu tượng, hình tượng độc đáo trong thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Mỹ. Đó cũng là biểu tượng của sự vẫy gọi, có sức mạnh cỗ vũ, động viên mọi người ra trận, tin vào lý tưởng, vào ngày mai tươi sáng. Vì thế, màu đỏ trở nên độc đáo, riêng biệt, mang đậm dấu ấn của một thời chiến tranh bom đạn ác liệt. Chính mang biểu tượng đẹp như vậy, nên chia ly mà :“như không hề có cuộc chia li”Âu đó cũng là cái khác lạ của một thời khiến nó trở nên độc đáo lạ thường.
Màu xanh trong thơ Nguyễn Mỹ
Nếu màu đỏ là “anh cả” thì màu xanh là “anh hai” trong thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Mỹ. Ta bắt gặp màu xanh khá đa dạng, phong phú, sinh động trong thơ anh. ễÛ đó, có cây si xanh, cành xanh, đồng xanh, làng xanh, bát nước chè xanh, rêu xanh, cỏ xanh, núi xanh, b•i cỏ xanh, tre xanh, dừa xanh, lúa xanh, ánh trăng xanh, trời xanh, nóc vòm xanh, chiến khu xanh, vùng xanh, mắt đẹp màu xanh, da xanh….Khía cạnh khác của màu xanh: tuổi xanh, mái đầu xanh, mồ xanh, giấc mơ xanh, tuổi thanh xuân, sắc lục, vầng dương chói lọi, thung biếc …Về tính chất xanh thì có : xanh mênh mông, xanh bát ngát, xanh mượt, xanh mét, xanh đậm, xanh thẳm, xanh ngăn ngắt, tái xanh,…Trải qua nhiều thế hệ, màu xanh luôn là màu được các thi sĩ ưa chuộng, thích dùng, một phần do đất nước chúng ta ở vùng nhiệt đới giàu sắc xanh, phần khác do con người tươi trẻ, lạc quan, yêu đời…Nguyễn Khuyến đ• chọn màu xanh để gửi hồn mình (tỉ lệ: 31.5%). Đặng Trần Côn- Đoàn Thị Điểm cũng thế, (Tỉ lệ: 37.4%), và ta cũng gặp màu xanh đầy sức sống trong thơ Tố Hữu, Tế Hanh, Giang Nam…Tố Hữu đ• có bài Màu tôi yêu : “Nếu là họa sĩ / Màu tôi yêu là màu xanh / của núi sông trời biển trong lành / Đầm thấm màu xanh nghìn năm đất nước.”Nguyễn Mỹ đ• có những vần thơ về quê hương, đất nước mến yêu đầy sắc xanh:- Đồng ruộng chúng ta / Xanh thẳm bao la (Pháo xuống đồng bằng).- Vun vút những làng xanh sát tới (Pháo xuống đồng bằng)- Đồng xanh sương lên mơ màng(Hoa thiên lý)- Cây si xanh gọi họ đến ngồi(Cuộc chia li màu đỏ)- Những đường cày đi dưới trăng xanh (Mùa đánh Mĩ)- Mây cũng chín trên trời xanh vàng óng (Mùa đánh Mĩ)- Tre lũy đang xanh, lớp măng đ• dậy (Ra thao trường)Qua việc thể hiện màu xanh của quê hương, đất nước, biển trời, Nguyễn Mỹ đ• sử dụng màu xanh mang ý nghĩa biểu trưng. Đó là màu xanh của hòa bình, hy vọng, được anh gửi gấm vào hình ảnh các anh phi công trẻ tuổi giữ bầu trời Tổ quốc “Có phải anh trên bầu trời hòa bình xanh thắm / Đ• biến những “con ma” Mỹ thành những đóm lửa ma trơi”(Lời chào gửi các phi công trẻ tuổi Việt Nam )Do quan niệm màu xanh hòa bình nên anh đ• có những câu thơ với những hình ảnh sáng tạo, đậm đặc màu xanh tượng trưng: “H•y diệt chúng ngay từ cổng trời xanh!”(Lời chào gửi các phi công trẻ tuổi Việt Nam) hay: “Trên nóc hầm bình thản ngắm trời xanh” (Tôi không ngớt nghĩ về em và tôi thấy).Màu xanh cũng là màu của sự sống. Điều này thật ra không mới và đ• có nhiều nhà thơ sử dụng với ý nghĩa đó: “Anh sẽ giữ màu xanh cho em cấy em trồng/ Trái sẽ chín ngọt ngào như sữa mẹ”(Giữ lấy màu xanh - Giang Nam)Nguyễn Mỹ đ• có cách thể hiện khá tinh tế từ hình ảnh “tấm vải ngụy trang”: “Tặng em tấm vải ngụy trang/…Anh tặng vải màu nhuộm sắc xanh cây. …nơi ấy đạn bom và thuốc độc / Của quân thù, không cướp được màu xanh (Tấm vải ngụy trang)Rồi anh hóa thân vào hình ảnh hoa chuối Việt Nam làm tên lửa để đối mặt với quân thù, bảo vệ sự sống quê hương, đất nước: “ Kìa! những làm quê bị thiêu trong lửa dữ / Chuối theo người đi giữ màu xanh”. (Hoa chuối Việt Nam và bầy quạ Mĩ)Màu xanh hòa bình, sự sống được anh dùng đối lập với lửa dữ chỉ kẻ thù đ• gây ấn tượng mạnh. Dùng từ “Sắc lục” thay cho màu xanh thật độc đáo, bất ngờ tạo hiệu quả cao, rất có ấn tượng :“Anh nghe ấm hơi người trong sắc lục/ Anh đuổi theo những vần thơ đang hát về em”. (Hơi ấm đường rừng)Ngoài ra, màu xanh trong thơ Nguyễn Mỹ còn đậm chất huy vọng, niềm tin đ• được khẳng định trong bài Lúa sớm : “Người lính trẻ ra, ngẩng mặt, cất cao đầu / Lội giữa màu xanh, chứa chan huy vọng”. Một màu xanh đầy hứa hẹn, bao huy vọng khi ta chiến thắng quân thù : “Hẹn một mùa xanh như lòng ta mong ước / Trên xác quân thù đỏ chiến công / Mưa làm hạt trong tay ta gieo v•i / Đồng bắc đồng Nam xanh mênh mông” (Khúc hát tháng Năm).Trong các bài thơ có màu xanh, thì bài Giấc mơ xanh đ• được anh kí thác, gửi gấm tâm hồn mình vào sắc màu này, đậm nhất là tiêu đề bài thơ đ• bộc lộ ý đồ đó của tác giả. Bài thơ có từ xanh được lặp đi, lặp lại 6 lần. Mỗi từ xanh là một niềm hy vọng với những cung bậc tình cảm khác nhau.Mở đầu bài thơ là :“Giấc mơ xanh còn xanh m•i tôi / Là Ô Loan đầm nước trong ngời”. Đó là màu xanh của sự sống, của tuổi trẻ, của ước mơ, hy vọng, khát khao cống hiến, khát khao hòa bình. Giấc mơ xanh của anh đ• hòa lẫn trong màu xanh của nước đầm Ô Loan trong mát và tươi đẹp của sóng biển quê nhà, của rặng dừa xanh dương liễu, của màu xanh cụm núi Sầm, của rêu xanh, của đời xuân xanh để rồi cùng vút lên đỉnh trời xanh. Có được giấc mơ xanh ấy, Nguyễn Mỹ thầm cảm ơn quê hương, người mẹ đ• vun đắp hồn thơ dạt dào đầy sức sống cho quê mình (Quê hương là mẹ, mẹ là quê hương). Anh đ• có những vần thơ thắm thiết về mẹ: “Từ buổi mẹ thôi không hát / Chợ chiều nhiều khế ế chanh / Tóc mẹ mỗi ngày một bạc / Sợi già sợi nhớ thương anh”(Hoa khế nở). Có lần anh nói về Ô Loan : “Biển vào Ô Loan nằm ngủ thiếp / Sò huyết sinh trong đáy giấc mơ xanh / H•y nhớ về Ô Loan bạn nhé!/ Trời đất tinh trong cho bạn thấy trái tim mình…” (Tuy An). Chính vì vậy, mà anh sung sướng reo lên : “Tôi như con sóng nhoài trên biển / Mẹ gọi về đây nghỉ chút thôi”.Người cha xuất hiện trong bài thơ với dáng sâu lắng của suy tư : “Cha già như bóng núi trầm ngâm / Như dáng trầm tư cụm núi sầm / Rêu xanh như thể chưa hề chứa / Dáng dấp đời xuân ngọn sóng thầm”.Một màu xanh ngời sáng trong bốn câu của khổ thơ. Phải chăng, người cha cũng tỏa thêm sắc màu xanh biếc vào giấc mơ xanh của con mình. Chính màu xanh của cha, của mẹ, của quê hương, đất nước, không chỉ là nguồn suối tắm mát giấc mơ xanh của thi sĩ mà còn tiếp thêm sức mạnh cho tác giả bay cao, bay xa vào chân trời mơ ước : “Nâng giấc mơ lên tới đỉnh trời”.Kết thúc bài thơ là hình ảnh đẹp, rất l•ng mạn với kết cấu lặp. Giấc mơ xanh như một điệp khúc của bài ca hy vọng cùng với những âm thanh huyền diệu trải dài trong bài thơ (Mẹ gọi, mẹ hát, ngọn sóng thần, triều đang gọi…) tạo thành ngọn gió nâng cánh diều giấc mơ xanh của Nguyễn Mỹ vút lên đỉnh trời.Ta còn gặp màu xanh của tuổi trẻ, tuổi thanh xuân trong thơ anh : “Hoa rơi trên mái đầu xanh” (Hoa khế nở - 1957), hay : “Làm đường băng của tuổi thanh xuân (Đường Hồ Gươm với những chiếc xe lăn). Độc đáo và mới lạ hơn, Nguyễn Mỹ dùng màu xanh diễn tả một kiếp cây nhưng cũng là một kiếp người trong cuộc chiến đẫm máu với quân thù : “ Một kiếp cây đ• hết tuổi xanh rồi” (Hơi ấm đường rừng).Giống như màu đỏ, màu xanh trong thơ anh còn là màu chiến thắng :“Từ những chiến thắng làm xanh thêm mặt đất dưới chân ta / Ta đ• bay lên cài giữa ngực trời chiến công đầu như vầng dương chói lọi” (Lời chào gửi các phi công trẻ tuổi Việt Nam).Anh lại dùng màu xanh đối lập với màu lửa để nói lên niều khát khao hòa bình, quyết bảo vệ quê hương đất nước : “Kìa! những làng quê bị thiêu trong lửa dữ / Chuối theo người đi giữ màu xanh” (Hoa chuối Việt Nam và bầy quạ Mỹ).Tóm lại, nếu màu đỏ biểu trưng cho lý tưởng thì màu xanh trong thơ Nguyễn Mỹ là màu của sự sống, của quê hương, đất nước, màu của hy vọng, của bình yên, của tuổi trẻ. Tuy cuộc chiến khốc liệt gian khổ nhưng sự hiện diện của những gam màu xanh trong thơ Nguyễn Mỹ đ• xóa đi vẽ u buồn, tâm tối và thay vào đó là sự sống, niềm lạc quan, yêu đời. Âu đó cũng là nét độc đáo của thơ anh và cũng là dòng thơ chống Mỹ.
Màu tím trong thơ Nguyễn Mỹ
Không phải ngẫu nhiên mà trong 50 bài thơ, Nguyễn Mỹ có đến 7 bài thơ có sắc tím (Hoa cúc tím, Rừng thu xưa, Hoa khế nở 1957, Hoa khế nở 1958…, Hơi ấm đường rừng, Ra thao trường, Hoa chuối Việt Nam và bầy quạ Mỹ)Màu tím hiện diện trong thơ Nguyễn Mỹ không nhiều bằng màu đỏ, màu xanh, màu trắng thậm chí màu vàng, nhưng lại được nhà thơ ưu ái, dành một chỗ đứng xứng đáng như một đứa em út, để cùng với các anh cả là màu đỏ, anh kề là màu xanh, thành một chân kiền như có người nói hợp xướng của ba màu: đỏ- xanh- tím.Đặc biệt, khác với màu đỏ, màu tím trở thành hình tượng nghệ thuật, được diễn tả độc nhất niềm thương, nỗi nhớ với người yêu và người thân. Khác với các nhà thơ khác cùng thời như Chế Lan Viên dành hoa Huệ, hoa Lau cho tình yêu :“Hạnh phúc màu hoa Huệ / Nhớ nhung màu hoa Lau / Biệt ly màu rách xé / l•ng quên đâu có màu” (Màu).Những sự vật gắn với màu tím được Nguyễn Mỹ chọn lọc là những sự vật đẹp, có tính ước lệ tượng trưng : Hoa cúc tím, trời thu ửng tím, hoa sim nở tím, hoa chuối chín hồng, ăn trầu tím miệng, màu bông tím ngắt, chùm hoa tím, hoa tím rơi rơi…Từ sự vật cụ thể đó, tác giả đ• khái quát thành màu tím của tình yêu. Dưới mắt nhà thơ, hoa cúc tím là loài hoa đẹp, là mẫu gốc tình yêu. Ca dao từng có những hình ảnh về hoa cúc tím chỉ tình yêu :“Hoa cúc vàng nở ra hoa cúc tím / Em có chồng rồi trả yếm cho anh”.ễÛ bài thơ Hoa cúc tím, nhân vật trữ tình có thể gửi gấm trọn tình cảm vào em yêu : “ Anh lang bạt đi tìm. Anh từ dạo ấy /ễÛ trong đất và trong nước chảy / Nghe nới mình có chút niềm vui / Gửi cho hoa cúc tím ở trong đời” (Hoa cúc tím)Theo Tô Hà kể, bài hoa cúc tím, Nguyễn Mỹ viết tặng cô M : “Nguyễn Mỹ đ• yêu một cô gái, cô M, yêu đến thẫn thờ. Đó là một cô gái nền n•, mộc mạc, có học, thuộc lứa thanh niên tóc dài. Đặc biệt cô có đôi mắt lúc nào cũng mở to, đượm buồn, gương mặt rám nắng với dáng đi hơi gù” [12 ;50]. Chính cô gái và tình yêu nồng cháy là động cơ giúp cho thi sĩ yêu đời ngất ngây, thăng hoa với những dòng nhớ thương đậm sắc màu tím, lan tỏa ra “ một trời thương nhớ : “Từ vườn xoan anh băng qua vườn khế / Lên đồi sim rồi lại xuống ruộng cà / Đâu cũng tím một trời thương nhớ/ Biết mấy màu tím ở trong hoa”.Bài Rừng thu xưa được viết năm 1958, với một tứ thơ khá lạ. Mở đầu bài thơ là hình ảnh một loài hoa quen thuộc, gần gũi ở quê nhà mà mang sắc màu tím : “Mưa thu mát đất / Lú búp bông giờ / Lòng nghe rạo rực / Màu bông tím ngát” .Từ hình ảnh cụ thể đó, tác giả khái quát màu tím đặc trưng để gửi trọn tình cảm thủy chung, thương nhớ trải dài theo năm tháng:Mùa tím trâm, mùa đất lú bông giờMùa yêu đương Mùa thương nhớ đợi chờ…Trời sát lại nhưng rừng xưa xa hútTai nghiêng lắng giọt mưa thu thánh thótChảy tràn trề tím đất nhớ thương” (Rừng thu xưa)AÙm ảnh bởi màu tím tình yêu, vì thế trong bài thơ tình Hơi ấm đường rừng, sau những lời thơ diễn tả những khó khăn gian khổ của chiến trường mà em yêu phải đối mặt, để gửi gấm tình cảm rất mực nồng thắm của mình, anh đ• chọn áo màu tím để em mặc lúc chia tay : “Từ trên yên xe đạp / Giữa đường áo tím bay / Mà nay rẽ lối mây”. Ngoài màu tím dành cho tình yêu, tác giả dành màu tím cho người thân ruột thịt của mình. Nhớ về người thân ở quê nhà, mà trước hết là cha mẹ, anh em ruột thịt, tác giả mượn hình ảnh cây khế để gửi gắm nỗi nhớ của mình :“Có người lính miền Nam trên đất Bắc/ Bổng nổi buồn thức giấc mênh mông / Xam xám trời thu ửng tím một vùng/ Hoa khế nở/ reo vang / Lời gợi nhớ” (Hoa khế nở).Tóm lại, năm tháng rồi sẽ qua đi, cuộc sống có thể biến thiên, thăng trầm, con người sẽ có cái nhìn khác nhau về quá khứ của dân tộc, song nói đến cuộc chia li trong kháng chiến chống Mỹ vĩ đại, người ta không thể không nhắc đến thi sĩ Nguyễn Mỹ. Nhớ đến anh, người ta nghĩ ngay đến nhà thơ của những sắc màu. Còn chúng tôi gọi anh là nhà thơ vẽ tranh bằng ngôn từ.
Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Trọng Định, Nguyễn Mỹ (1979), Sắc cầu vồng, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.
2. Hội văn nghệ Hà Nội – Sở Văn hóa thông tin Phú Yên (1993), Nguyễn Mỹ –Cuộc chia li màu đỏ, xí nghiệp in Hải Quan.
3. Phan Thị Diễm Hương, Bài thơ cuộc chia li màu đỏ, Tạp chí Văn học số 3/ 1991.
4. Ngô Văn Phú ( sưu tầm - biên soạn) (1999), Tuyển tập thơ Việt Nam (Giai đoạn chống Mỹ Cứu nước), Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.
5. Vũ Quần Phương (1999), Thơ với lời bình, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
6. Thanh Quế (2001), Từ những trang đời, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.
7. Vũ Tiến Quỳnh (biên soạn) (1995), Quang Dũng – Nguyễn Mỹ – Xuân Quỳnh, Nxb Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh.
8. Trần Đình Sử (2003), Thi pháp truyện Kiều, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
9. Trần Đình Sử (2005), Thi pháp văn học Trung đại Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.
10. Tập thể tác giả (2001), Những vấn đề lí thuyết – lịch sử văn học và ngôn ngữ, Nxb giáo dục, Hà Nội.
11. Đào Thản (2006), Một sợi rơm vàng tập 2, Nxb Trẻ, TP. Hồ Chí Minh.
12. Trúc Thông, Nguyễn Viết Tựu (1995), Nguyễn Mỹ – Nhà thơ chiến sĩ, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.
13. Nguyễn Thị Thu Trang (2004), Văn học Phú Yên thế kỉ XX, Nxb Văn nghệ, TP Hồ Chí Minh.
14. Võ Gia Trị (2007), Những bài thơ mang sắc đỏ một thời, Tạp chí Thơ tháng 2, Hội nhà văn Việt Nam tr 25 – 31.
15. Viện văn học (1979), Văn học Việt Nam chống Mỹ cứu nước, Nxb Khoa học x• hội, Hà Nội.